Hôm nay là ngày Remembrance Day, tức là Ngày Tưởng Niệm các chiến sỹ
trong chiến tranh. Sáng lên Facebook thấy báo tin là ngày sinh của Bs.
Phạm Doãn, trong lòng cũng thấy có chút trùng hợp. Tôi được một cái tánh
là hay nhớ ngày sinh bạn bè, nhưng rồi vài người trong số ấy đã ra đi
nên tôi nhớ luôn ngày tử của họ là thành hai. Ngày sinh còn chúc mừng,
có hoa và bánh kem, ngày tử chỉ biết một mình tưởng nhớ – còn sinh nhật
của một người đã mất thì bối rối chẳng biết phải làm sao cho đúng lẽ.
Tháng 11 cũng gợi tôi nhớ tới sinh nhật của một bậc đàn anh đáng
kính, đã dìu dắt tôi rất nhiều lúc còn ngu ngơ – anh Kts Văn Công Thuần.
Thôi thì tôi sẽ dùng ngày Remembrance này để tưởng nhớ, vì họ có cái
chung đều là Chiến Sỹ, dù chết trên trận chiến súng đạn hay trận chiến ở
xã hội thì họ cũng đều là những con người can đảm. Thế, can đảm thì có
gì hay?
Từ một câu trong phần thảo luận của bài viết “Như một lời nói thừa”,
bác Hoa Nguyen cho rằng sự can đảm trong thời gian cuối đời của bác Phạm
Doãn (Luyện) là không đúng lúc, hoặc không cần thiết phải làm thế. Tôi
viết bài này, cố gắng tránh nhắc lại những chi tiết không cần thiết hoặc
không liên quan, hoặc như là có bạn nói “lấy chuyện hậu sự của người ta
ra… tự sướng” – tôi không thích (và không cần thiết) lấy cái đau khổ
gia đình người ta mà tôn vinh bản thân mình. Nhưng tôi không thể làm
ngơ, bởi vì cái im lặng này không phải là kiểu “im lặng của bậc trí”.
Nếu không phân tích được thì quả thật cũng sẽ chẳng có ai hiểu cái
giá trị phi thường của lòng can đảm – và dẫn tới mọi người sẽ dễ duôi
bắt tay với sự hèn nhát, vì nó dễ làm hơn và cũng “lợi nhiều bề”. Kẻ nào
biết mà không bênh vực sẽ thành câm, có trí mà không có dũng nói lên
thì sẽ dần thành đần độn – luật Nhân Quả nghiêm khắc rất ác nghiệt, mà
tôi cũng không phải là thứ câm hèn. Bởi vì có không nhiều người hiểu
được sự can đảm – cái đại dũng lực – của bậc thánh khi đứng trước sinh
tử, cho nên cũng có rất ít người chứng đắc được tuệ giác thiền định.
Tôi viết bài này một phần vì đồng cảm với Bs. Phạm Doãn, nói lên cho
mọi người được rõ là ông ta đã dũng cảm thật sự như thế nào, chứ không
phải chỉ có biểu hiện ở những chuyện nhỏ nhặt như “tự rút ống, nội soi
không thuốc mê” hoặc tuyên bố “còn bao nhiêu chơi bấy nhiêu”. Phần còn
lại tôi muốn nêu giá trị của đức tánh can đảm – dũng lực – trong bước
đường tu tập giải thoát.
Can đảm có gì hay ho? Hay quá đi chứ! Một con người can đảm dám làm
dám chịu, dám sống thực như mình mơ ước mà không bị bất cứ sự cản trở
nào trong suy nghĩ. Muốn leo núi vượt rừng nhưng trong tâm đầy những lo
ngại, sợ sệt, tính toán thiệt hơn,… thì mãi mãi vẫn ở nhà. Một con người
bình thường, lúc còn bé thì cha mẹ luôn dạy phải tránh rắn rít, coi
chừng đứt tay, đừng chạy nhanh quá sẽ té đau,.. đó là những lời khuyên
đúng, nhưng dần dần đứa bé sẽ thận trọng và dè đặt – người ta bảo rằng
kẻ “biết suy tính” là người lớn.
Ra đời, xã hội dạy ta phải biết sợ công an, sợ chính quyền cũng như
sợ bọn tội phạm. Về nhà thì sợ vợ, vì mong được ổn định nên thỏa hiệp và
nhắm mắt trước những tật xấu của con người trong gia đình – vợ nó coi
thường cũng phải, vì hai cái hòn của đàn ông đã teo mất từ lâu. Vào cửa
thần quyền thì cái đầu tiên được dạy là phải quỳ lạy sợ hãi một bức
tranh tượng nào đấy – của những bậc thánh dũng cảm – chứ không được dạy
phải noi theo các đức tính, dũng lực của bậc thánh nhân ấy. Gần cuối đời
khi thấy trước mặt là hố đen thì sợ quíu cẳng, cố quỳ lạy van xin để
bám víu vào một tia hy vọng nào đấy, rằng sau khi chết sẽ được “cứu
vớt”.
Hóa ra con người ta cứ phải sợ hãi suốt đời, từ bé cho tới chết –
chưa một ngày đủ dũng cảm để thấy được tự do. Cho tới ngày nằm nhắm mắt
chờ cái chết mới hối hận tại sao ta chưa từng được sống như ta mong
muốn. Ngày Remembrance tôi được xem và đọc những đoạn lịch sử kể về
những con người bình thường sống ở xứ tự do giàu có, nhưng khi tin nghe
đất nước quê hương bị chiến tranh thì họ xếp hàng rồng rắn đăng ký vào
quân đội, đến nổi người ta phải tìm cớ loại bớt ra. Cũng là thiêu thân,
nhưng kẻ hèn nhát thích đốt cuộc đời họ trong hưởng thụ dục lạc hơn là
cho tổ quốc – rồi sau đó bĩu môi chê bọn ấy ngu. Cuộc đời nhanh như chớp
mắt, rồi ai cũng chết, nhưng có người được sống thực, có người chưa bao
giờ được sống. Những con người dũng cảm họ đã được tự do trước khi
chết, những kẻ hèn chỉ hưởng thụ trong sự sợ hãi.
Xã hội và chính quyền rất sợ lòng dũng cảm, họ tôn vinh các anh hùng
liệt sỹ nhưng lại sợ sức mạnh ấy – bởi vì bản chất của giai cấp thống
trị là hèn nhát, nên mới sống sót mà luồn lách leo lên. Một mặt thì dựng
tượng thờ nhưng mặt khác ngấm ngầm tiêu diệt. Sự can đảm là một đức
tánh mà thần quyền lẫn bạo lực không thể cai trị được. Vì độc lập tự do
con người ta sẳng sàng đổ máu, vì không muốn bị kẻ ngu đè đầu cỡi cổ
người ta dám liều chết vượt biển cưỡi cá mập. Không một thế lực nào có
thể làm chùng bước can đảm, kể cả cái chết. Sự tham lam luôn đi đôi với
hèn nhát – sợ mất – cho nên khi xã hội được xây dựng từ lòng tham sẽ
phải “đì” những kẻ gan dạ. Ai nhút nhát thỏa hiệp thì sống an ổn, ai can
trường muốn vượt lên thì sẽ vướng phải chập chùng trở ngại, do cuộc đời
này đã thiết kế sẵn – như một quy luật.
Chiến tranh sinh ra do lòng tham, và người ta tìm cách dụ dỗ những
chiến sỹ vào chổ chết – kẻ tham hèn thì luồn lách sống và hút máu con
người trong chiến tranh như loài ma cà rồng. Nếu không có chổ để triệt
bọn Chiến Binh ấy thì chúng sẽ dùng cái dũng lực để tìm diệt những
chướng mắt ung nhọt trong xã hội – là cái đuôi của lòng tham. Tôn giáo
cũng khởi đầu từ những bậc Thánh dũng cảm, dám hy sinh vì nhân loại,
nhưng lại được “tiếp quản” bởi con người – đằng sau là cái tham của
Satan xúi giục – cho nên chẳng ai thèm gỡ Chúa Jesus xuống, cứ để Ngài
bị đóng treo trên giá.
Đó là hình phạt cho những kẻ can đảm, bạn vào nhà thờ chẳng nhìn thấy
thế sao? Phật tử đi chùa lạy Phật để cầu xin, chứ không phải quỳ xuống
tôn vinh sự dũng cảm tuyệt vời của Ngài khi chiến đấu với Bản Ngã Tham
Ác, hoặc sự dũng cảm chiến đấu giành lại từng người để mà cho họ vượt
thoát ra khỏi cõi dục. Họ cũng chẳng cần tìm hiểu con đường mà Ngài đi
qua và đã làm, chỉ cần ban phước gia hộ cho họ tiếp tục tham lam là
được! Chừng nào con người còn sợ hãi và nhút nhát thì tôn giáo và chính
trị vẫn còn vững bền cai trị, họ sẽ dựng tượng anh hùng nhưng chính họ
cũng là kẻ đã bắn người đó – để biến ông ta thành tượng đài.
Có một câu nói rất hay: “Chỉ khi nào ngươi dám chết vì Ta, ngươi mới vào được Thiên Đường.”
Câu này được giải nghĩa theo nhiều cách, được các giáo chủ dùng làm
công cụ để hướng sự cam đảm của con người trở thành các vũ khí chống lại
con người. Các đội quân tôn giáo trong các cuộc thánh chiến cũng từ câu
ấy mà ra. Đáng lẽ vị Thánh ấy dạy con người dũng cảm bảo vệ Chân Lý để
giác ngộ, bước vào hàng ngũ Thánh, thì lại bị bẻ cong để xúi giục con
người làm quân lính phục vụ cho sự tham muốn bành trướng lãnh thổ – lòng
tham của Quỷ. Trong kinh Phật giáo Đại Thừa cũng có đoạn “qua đi, tiếp đi, cho tới bờ bên kia“,
nghĩa là khuyên con người hãy dũng cảm mà tự chèo qua sông mê. Chính
Đức Phật lúc cuối đời cũng dặn dò “hãy thắp đuốc lên mà đi, hãy tự nương
tựa chính mình”. Thế mà cũng những con người thờ kinh ấy, lại dạy rằng
hãy thiết tha kêu gọi tên một vị Phật tưởng tượng, để được tiếp rước.
Thế thì các giáo sỹ đã phản Chúa chém Phật thêm một lần nữa.
Những ngày bác PD biết sắp phải ra đi, ông HN có khuyên rằng “hãy
nương tựa một vị Phật nào đó” để cảm thấy yên tâm và nhẹ nhàng hơn. Đó
là một lời khuyên rất thừa thải – dù có vẻ như có lòng tốt giúp đở, quan
tâm – giống như khuyên một vị anh hùng rằng “hãy đầu hàng giặc đi, anh
sẽ được mọi thứ”. Thực ra ý của ông HN là thế này: “Anh hãy nương tựa
vào Phật A Di Đà, đọc tụng tên Ngài để mong cầu vãng sanh. Anh phải công
nhận là anh sai lầm, và sám hối rằng những đau khổ này là quả báu từ
việc dám chống lại Đại Thừa. Sự can đảm của anh là vô ích…”
Những ai đã đọc sách giáo khoa Trung Học đều biết chuyện “những điều
lố hay Raven và Phan Bội Châu” trích đoạn ngài Raven khuyên ông Phan Bội
Châu hãy đầu hàng Pháp đi. Khi tôi đọc những dòng ấy, quả thực thấy
cũng như thế. Tôi không dám gọi những người sống gần hết đời mà tin theo
Tịnh Độ là nhát gan, bởi vì khi cái chết cứ ngày một đến gần mà tâm
chưa được an định thì ý tưởng Vãng Sanh về Tịnh Độ là một cứu cánh. Ai
đó tự xưng anh hùng hảo hán, đi máy bay mà nghe thông báo có một động cơ
ngưng hoạt động thì cầm chắc là són cmn ra, kêu tên đủ thứ Phật Thánh –
kể cả Ala.
Thế nhưng đem cái ý tưởng hèn nhát ra trước một con người không đầu
hàng trước số phận, làm chủ được cuộc đời mình khi sống trong lòng một
xã hội rối ren, đã tự mình đi thử hết các con đường đã có trước, dám tự
mình mở ra một hướng mới cho thế hệ sau – thì quả thật là rất lố bịch.
Bảo một người sống tỉnh thức tới phút chót rằng hãy tỉnh táo mà cầu vãng
sanh thì cũng giống như khuyên một tỉ phú tiết kiệm tiền lẻ vậy.
Một vị anh hùng đến chết không đầu hàng, ta gọi là hy sinh anh dũng.
Một người tốt vì cứu hỏa hay vớt người chìm xuồng, sau đó hy sinh, là
can đảm quá sức, xứng đáng dựng miếu thờ. Một chiến sỹ sẳng sàng chết để
bảo vệ tổ quốc, cũng là anh hùng liệt sỹ,.. chết trẻ hay già thì cũng
chết chỉ có một lần. Nói theo phim Tàu “mười tám năm sau vẫn lại là một
hảo hán”. Những vị anh hùng này có tâm thức rất mạnh, coi sống chết nhẹ
như không, bởi vì sau đó họ trở thành màu cờ linh vị, thành hồn thiêng
sông núi, hoặc tin rằng có đầu thai cõi khác tốt đẹp – họ dám bỏ cõi
sống. Người từ chối tiếp rước về cõi Phật (như người ta vẫn tin thế) can
đảm hơn các anh hùng nhiều lần – vì từ bỏ luôn cõi sau khi chết. Bs. PD
viết rất nhiều nhưng chưa bao giờ thị phạm cho mọi người thấy, sự can
đảm ở chổ dám lấy “lần duy nhất” của mình ra để chứng minh và làm thành
một bài giảng vô ngôn.
Bs. PD không “giảng” giống như các Thiền Sư thời xưa đã làm, ông can
đảm nói lên rằng “làm cách khác vẫn được!” và ông chứng minh cho thấy
rằng người ta có thể tự tại nhập diệt trong tỉnh thức bằng một cách
NGOÀI PHẬT GIÁO, theo cái mà các vị đạo mạo khinh thường cho rằng “ngoại
đạo” – nhưng lại là tiền thân của Phật giáo, còn chứa các kho tàng chưa
bị xóa mất. Trong thời gian cuối đời ông đã can đảm nói lên những điều
khác với truyền thống Phật Giáo, rằng Thiền Định và những Chứng Đắc của
Phật giáo bắt nguồn từ một nơi khác – ông có chỉ rõ ra ở đâu. Để tuyên
bố chắc nịch, ông đã chứng minh cho mọi người thấy. Ai dám bảo đó là
công phu ngoại đạo – ý khinh rẻ, khi mà “trong đạo” cũng chẳng có mấy ai
làm được.
Ông ta đã can đảm như thế đấy! Ông ta biết Thiền và nhập Định để bỏ
thân, đủ sức để tự “đi về cõi Phật” chẳng cần ai tiếp rước, nhưng đã
dùng một cách hoàn toàn khác, một cách chưa có ai dám thử, để làm sáng
mắt những con người kinh viện bảo thủ. Ta gọi những người dám hy sinh sự
sống là can đảm, thế còn những ai dám làm chuột bạch hy sinh luôn cả
cái chết và cuộc sống “cực lạc” sau khi chết – để mở một con đường mới
cho thế hệ sau nghiên cứu Phật Pháp đúng đường, thì ta gọi họ là gì?
Cam đảm là tính chất của bậc Thánh, đầu hàng và sợ sệt bám víu là
tánh chất của con người. Cũng trong kinh điển ghi chép rằng Đức Phật lúc
thiền định dưới gốc cây Bồ Đề, khi gần đạt tới Chứng Ngộ đã phải bị
Mara thử thách như thế nào. Sợ hãi là tánh chất của bản ngã, người can
đảm là người đã quay lưng lại với quyền lợi của chính mình – đối đầu với
bản ngã. Lúc ngồi kiết già công phu thiền định là lúc thể hiện dũng
lực, cuộc chiến sinh tử với chính cái ta, cái tri giác tồn tại của mình.
Thầy tôi dạy rằng, nếu chân đau thì cứ cho nó chết luôn, nếu cảm thấy
sắp chết thì cứ thử chết một lần xem – vì nếu có bỏ thân trong tư thế
thiền định thì chắc chắn sẽ lên cõi Trời, trên đời này chỉ có bậc Thánh
mới nhập định bỏ xác trong tư thế kiết già.
Triết gia phương Tây cho rằng “tôi tư duy là tôi tồn tại”, nhưng
trong thiền định thì hết tư duy vẫn còn tồn tại – cái “ta có đây”. Người
đi vào thiền giống như bước vào ranh giới của cái chết, các cảm thọ
nhạt nhòa dần, tri giác yếu dần cho tới khi ngắt biệt với thế giới bên
ngoài – xem như chết lâm sàng. Lúc đó vẫn còn tâm và ý thức, sự sống vẫn
còn yếu ớt trên hơi thở, cho tới lúc có thể trụ vào hơi thở dừng rồi
ngay cả cái “ở đây bây giờ” cũng tan biến, vũ trụ quan sụp đổ, mất hẳn
không gian và thời gian. Người nào can đảm dám bước qua, không có gì đảm
bảo sẽ quay về được, vì đây là cái chết tối hậu, chết là mất hẳn. Bát
Nhã Tâm Kinh có câu chót ngụ ý: “Đi nữa đi, can đảm lên mới qua được bờ
bên kia. Qua tới đó mới trả lời được câu hỏi từ muôn thuở “ta là ai,
chết là thế nào?”
Người nhút nhát sợ hãi thì không dám nghĩ tới chuyện xuống đò thì làm
sao qua sông – không cách nào vào được qua đằng sau cánh cửa Thiền
Định, muôn thuở vẫn là hạng chúng sinh tầm thường thấp kém – dù có ai
hốt rước qua cõi nào chăng nữa – theo niềm tin. Thế mà ông HN vẫn một
mực cho rằng sự can đảm chẳng có giá trị gì cả, chỉ làm đau đớn vô ích.
Người khuyên đầu hàng thì sẽ được cõi dục này tuyên thưởng nhiều thêm,
người dũng cảm bỏ bè bơi nốt qua sông thì sẽ không còn gì, tự do thoát
khỏi cuộc đời này.
Như tôi đã từng gọi Bs. PD là một chiến binh, hơn nữa là một chiến
binh rất dũng cảm. Ngày Tưởng Nhớ Chiến Sỹ cũng là ngày sinh nhật của
ông, sinh thế nào thì tử thế ấy. Lời tuyên bố vô ngôn dũng cảm của Bs.
PD sẽ sớm bị chìm nghĩm mất hút, hay sẽ bị bóp méo hoặc làm giảm giá trị
– cho tới nay chỉ có tôi là nhai lại hai lần. Người hiểu được thì quay
lơ đi không dám chấp nhận, kẻ mù mờ dễ dàng tin vào các diễn giải rằng
Bs. PD cố chấp làm ra vẻ can đảm chứ có ích lợi gì đâu. Rồi người ta so
sánh với các vị “chết an lành có hào quang xá lợi” thấy khoái hơn là can
đảm vô ích thế kia. Chúng sinh còn nhiều lắm, đời là thế, uống lavie
đi!
SOFIACOFFEE.COM
SOFIA COFFEE | 101A-D2 Đặng Văn Ngữ - Đống Đa - Hà NộiVới Phương châm " Sản phẩm tốt cho sức khỏe của bạn" chúng tôi mong muốn mọi người được thưởng thức một loại cà phê 100% nguyên chất vừa thơm ngon vừa tốt cho sức khỏe.
Subscribe to:
Post Comments (Atom)